LIFESTYLE SỰ ĐIÊN RỒ CỦA ĐƯỜNG ĐUA FLAT TRACK

396

Vào đầu thế kỉ 20, thể thức đua xe gắn máy đầu tiên ra đời trên đường đua Board Track. Những đường đua Board Track đầu tiên được tận dụng từ những đường đua xe đạp cũ, song thể thức này không tồn tại lâu bởi tính nguy hiểm của nó. Sau vài thập kỉ đón nhận những bước nhảy vọt trong tiến bộ khoa học kĩ thuật, ngành công nghiệp Moto đã sản xuất ra những siêu phẩm xe hiệu năng cao, và kéo theo đó, như một sự tất yếu, là những thể thức đua xe mới. Flat Track Racing là một thể thức như vậy, với những nét tương đồng và không kém phần “điên rồ” so với tiền bối Board Track, dù đã an toàn hơn tương đối.

4valves.vn-flattrack1.jpg


Sân đua Aqueduct.

Những cuộc đua Flat Track đầu tiên được cho là diễn ra trên những thềm cát tại các bãi biển của xứ cờ hoa. Không lâu sau đó, chúng được chuyên nghiệp hóa và tận dụng các trường đua ngựa vốn rất phổ biến khi đó làm sân đua. Khi môn thể thao này được chính thức công nhận và hỗ trợ bởi các ủy ban cũng như các nhà sản xuất xe, các đường đua chuyên dụng được xây dựng, và đây cũng là khi mà kỉ nguyên của sự cuồng nộ bắt đầu, vào những năm 1930.

Giải đấu có thể thức Flat Track đầu tiên được tổ chức bởi AMA – American Motorcyclist Association vào những năm 1950, được coi như hậu bối của Class A Dirt Track Championship. Giải đấu đã thu hút rất nhiều nhà sản xuất (Harley Davidson, BSA, Bultaco…) và các tay đua tham gia, cũng như khai sinh nhiều huyền thoại như Dick Mann, Gary Nixon, Chris Carr, Scott Parker…

Đường đua Flat Track cơ bản kế thừa di sản của đường đua lòng chảo bởi hình dáng Oval của nó. Tuy nhiên, những sân đua này lại là những sân đua đường đất. Đặc tính này khiến chúng trở thành một trong những môi trường thi đấu phức tạp nhất trong thế giới Motosports, bởi bề mặt sân sẽ có độ bám không đồng đều do đất, và cát văng tứ tung trong quá trình thi đấu. Không chỉ có vậy, thể thức Flat Track cũng đòi hỏi kết hợp nhiều kĩ năng khác nhau tại mỗi vị trí khác nhau trên sân: Drag Racing (đua gia tốc) trên đường thẳng, Road Racing trên mỗi cua, hay thậm chí là Drift. Chính xác, Drift. Những tay đua Flat Track đã drift trên sân đất ngay từ những thập niên đầu tiên của thế kỉ 20.

4valves.vn-flattrack2.jpg


Những Drifter đầu tiên.

Thuở sơ khai, những cuộc đua Flat Track thường không được thấy với việc các tay đua đưa xe của mình “trượt” qua các cua. Tuy nhiên, khi những cỗ máy trên xe đua trở nên mạnh quá giới hạn chịu đựng của lốp xe và hệ thống treo (bao gồm khung sườn, nhún và các bộ phận liên quan), việc những chiếc xe đua Flat Track gặp hiện tượng trượt bánh sau khi vào cua trở nên phổ biến. Khi này, các tay đua phải sử dụng kĩ thuật vào cua khác, là tuân theo sự trượt tự nhiên ấy và thuần phục nó bằng việc Counter Steer (đ*nh lái ngược) bằng cả tay lái và việc điều tiết ga. Kĩ thuật vào cua dạng drift dần dần trở thành “đặc sản” của đường đua Flat Track những năm sau đó và tới tận ngày nay. Tuy khá phức tạp, cách vào cua này có thể được mô tả như sau:

  • Khi tiếp cận tới cua, tay đua nghiêng xe về phía cua, đồng thời sử dụng phanh sau và có thể kèm theo việc nhả xuống số thấp hơn, khiến bánh sau mất độ bám.
  • Dồn cơ thể về phía trước để tạo độ bám đường cho bánh trước.
  • Đưa chân xuống để cân bằng xe khi bánh sau bắt đầu trượt.
  • “Cảm nhận” xe và điều tiết ga để kiểm soát sự trượt của bánh sau.
  • Sử dụng tay lái để counter steer.
  • Khi gần hết cua, đẩy cơ thể về phía sau để núp gió, tay trái dùng côn được thả ra để ép sát thân người. Khi này, xe đã trên đường thẳng và cuộc đua trở thành Drag Race.
4valves.vn-flattrack3.jpg




4valves.vn-flattrack4.jpg


Thả một tay chuẩn bị núp gió ngay cả khi bánh sau vẫn còn đang trượt.

Sự điên rồ của Flat Track vẫn không dừng lại tại đây. Đằng sau những thứ nhãn tiền kể trên là những điều còn hơn thế nữa. Những tay đua, để có khả năng bộc lộ hết khả năng của mình cần những trang bị đặc biệt. Trước tiên, một chiếc xe cũng “điên” như chính những tay đua là điều không thể thiếu. Một xe đua Flat Track tiêu chuẩn vào những năm 60 70 của thế kỉ 20 sở hữu khoảng 80 mã lực, với cân nặng gần 130kg. Con số này tương đối khó hình dung, nên tôi sẽ làm một phép so sánh nhỏ về tỉ lệ. Siêu xe Lamborghini Aventador bản tiêu chuẩn LP700-4 có cân nặng 1575kg và động cơ V12 700 mã lực. Khá hoành tráng, nhưng nếu so về tỉ số công suất/cân nặng với những chiếc Flat Track cổ xưa thì vẫn thua xa. Với cùng tỉ số công suất/cân nặng của xe Flat Track, một chiếc xe nặng 1575kg sẽ cần phải có công suất 969 mã lực! Những chiếc xe thuộc hàng huyền thoại tại thể thức này như Harley Davidson XR 750 còn có công suất 95 mã lực với trọng lượng vẫn là 130kg. Những chiếc xe như thế này có thể vào cua tại 80 90 dặm/h (150km/h), hay đạt tốc độ tối đa 120, 130 hay 140 dặm/h (230km/h) trên đường thẳng. Hoàn toàn điên rồ!

4valves.vn-flattrack5.jpg


Ông vua Flat Tracker – Harley XR 750: 95 mã lực, trọng lượng 300 lbs.

Không chỉ có vậy, khi thi đấu, các tay đua cần một mũi giày bằng sắt, được gò bằng tay theo form chân của mình để chịu được những va chạm với bề mặt sân. Các tay đua cũng thường sử dụng một thủ thuật nhỏ để giữ cho kính của mũ bảo hiểm được sáng rõ: Họ thêm một (hay nhiều) lớp film trong suốt dán tại kính chắn gió, và mỗi khi nó trở nên quá bẩn bởi đất đá và khiến tầm nhìn trở nên mờ mịt, họ chỉ đơn giản là dùng tay (!) bóc lớp film này ra tại tốc độ ngoài 100 dặm/h. Mọi thứ sẽ trở nên tốt như mới!

4valves.vn-flattrack6.jpg


Gary Nixon – huyền thoại đường đua Flat Track.

Với những đặc thù của mình, những chiếc Flat Tracker cũng rất khác biệt. Chúng mang kết cấu khung sườn chắc chắn, với trọng tâm cao trung bình và hệ thống nhún cứng ở phía trước dạng Telescopic và nhún sau mềm hơn. Bình xăng của Flat Tracker cũng nhỏ, thon và thuôn dài với mục đích tạo chỉ số khí động học tốt cũng như giúp yên xe có thể được kéo dài về phía trước để tay đua có thể dồn cơ thể vào đó tại mỗi cua. Phần đuôi xe được vuốt nhọn và gập lên để giữ chắc cơ thể của tay đua khi họ đưa cơ thể về phía sau tại quãng đường thẳng, đồng thời giúp tối ưu khả năng khí động học. Góc phuộc trước (Caster Angle) cũng nhỏ cùng tay lái vươn cao và đưa về phía tay đua giúp xe dễ điều khiển hơn tại mỗi cua, ổn định và dễ núp gió hơn trên đường thẳng. Loại lốp được sử dụng trên xe thuộc dạng hybrid để thích ứng với địa hình phức tạp. Chúng thường có thiết kế như những chiếc Maxxis DTR-1 hay Dunlop K180. Lốp truyền thống của những nhà sản xuất Mỹ sử dụng thiết kế này cũng được ưa chuộng. Một đặc điểm “điên rồ” khác của đa phần những chiếc Flat Tracker truyền thống là bánh trước hoàn toàn không có phanh mà xe chỉ phụ thuộc vào phanh sau bởi phương pháp vào cua đặc trưng khiến việc sử dụng phanh trước là không cần thiết, hay đôi khi, nguy hiểm. Di sản này cũng được duy trì tới tận ngày nay trên nhiều thể thức nhỏ của Flat Track Racing.

Sự hấp dẫn của đường đua Flat Track và những chiếc Flat Tracker cũng kéo theo sự bùng nổ của những biến thể Tracker được sử dụng trên đường phố, như chúng tôi từng giới thiệu tại bài viết về Street Tracker trước đây.

4valves.vn-flattrack7.jpg


Mẫu Flat Tracker đến từ Co-Built với động cơ Rotax lấy từ mẫu CCM 604 Supermoto với các chi tiết “liên hiệp quốc”.

4valves.vn-flattrack8.jpg


Đường đua Flat Track ngày nay.

4valves.vn-flattrack9.jpg


Đường đua Flat Track – nằm xuống cũng đau!

4valves.vn-flattrack10.jpg


Núp gió để chuẩn bị thoát cua và tăng tốc.

4valves.vn-flattrack11.jpg


Ngoạn mục và ch*t người.

By Cộ · On April 27, 2015
 

tag - bình luận bài viết

Top