By Cộ · On September 3, 2015


 

Thế giới luôn vận động, cũng bởi thế mà nó phát triển. Trong suốt quá trình ấy, vạn vật khai sinh và cũng biến mất liên tục theo những quy luật nhất định. Song, dẫu rằng lẽ ấy là điều tự nhiên, đôi khi những sự ra đi lại đem lại nhiều niềm nuối tiếc quyến luyến cho con người.

Thế giới của những chiếc motor cũng không nằm ngoài quán tính đó. Trong thế kỉ 20, đã có rất nhiều sự kiện quan trọng xảy ra, nhưng có lẽ một trong những sự kiện gây nhiều ảnh hưởng và khiến giới yêu xe có cảm xúc nhất chính là sụp đổ của đế chế xe lớn nhất hành tinh trong khoảng thời gian thập niên 60 trở về trước: BSA. Sự ra đi này cũng đánh dấu công cuộc xâm chiếm thị trường toàn thế giới và “xoay trục” về châu Á của các thương hiệu xe máy Nhật Bản, góp phần định hình ngành công nghiệp xe motor ngày nay.

BSA, mang tên đầy đủ The Birmingham Small Arms Company Limited, được thành lập vào năm 1861 tại Birmingham bởi 14 thợ làm súng lành nghề, với mục tiêu chính là… sản xuất vũ khí. Vào năm 1863, BSA cung cấp 20.000 súng trường cho bộ binh Thổ Nhĩ Kì, tuy nhiên tới năm 1879, nhà máy buộc phải đóng cửa, sau khi ngừng hoạt động khoảng một năm bởi công việc cung cấp vũ khí không ổn định.

Sự thay đổi mang tính chiến lược này khiến BSA, một thời gian sau đó, “bén rễ” với mảng thị trường phổ thông hơn là những chiếc xe đạp. Khi này, khu nhà máy cũ vốn được dùng để sản xuất súng của hãng tỏ ra thích nghi khá tốt với việc tạo ra các thành phần của xe đạp. Tới năm 1880 – 1881, BSA cho ra mắt chiếc “Dicycle”, hay còn gọi là “Otto dicycle”, dựa theo tên của nhà phát minh. Tuy nhiên, trớ trêu thay, nhà máy tiếp tục đóng cửa vào cuối thập niên, khoảng năm 1887, khi BSA nhận hợp đồng cung cấp 1200 súng trường Magazine Lee–Metford mỗi tuần cho quân đội Anh từ đối tác Văn phòng Chiến tranh của chính phủ.

Tới năm 1906, BSA bắt tay vào sản xuất những chiếc xe gắn máy đầu tiên của họ. Trong thời kì đầu, tận dụng các máy móc cũ đã từng được dùng để sản xuất xe đạp, BSA cho ra mắt các mẫu xe gắn động cơ của một nhà cung cấp khác bởi tới thời điểm này, họ vẫn chưa làm chủ được công nghệ chế tạo động cơ. Chiếc motor được BSA sản xuất toàn bộ đầu tiên ra đời 4 năm sau, mang động cơ xi lanh đơn 498cc, với công suất vỏn vẹn… 3.5 mã lực. Đây cũng là thời điểm đánh dấu sự bắt đầu của kỉ nguyên của BSA. Cùng thời điểm này, song song với motor, BSA cũng triển khai hệ thống sản xuất ô tô. Năm 1910, BSA mua lại Daimler (tiền bối của Daimler-Benz, công ty sau này đã trở thành DaimlerAG, quen thuộc hơn với vai trò công ty mẹ của các nhãn hiệu Mercedes-Benz, Smart, AMG…) nhằm chế tạo động cơ cho ô tô của mình, tuy nhiên mảng sản phẩm này cũng không khiến BSA khấm khá hơn. Cuối 1919, hãng cho ra mắt động cơ V-Twin đầu tiên của mình, mã hiệu Model E, 770cc, có hai xi lanh tạo góc 50 độ cùng van nạp/xả nằm bên hông buồng đốt (side valve), sản sinh công xuất khoảng 7 mã lực (mạnh tương một trong đương chiếc Underbone thành công bậc nhất của Honda – Honda Wave), dẫu rằng, tại thời điểm đó, đây là một công trình khá ấn tượng. Model E, hay Type A, được BSA bán với giá 130 bảng Anh, cùng một số trang bị như hệ thống côn 7 lá, hộp số 3 cấp với cần khởi động đạp và giảm sóc trước phát triển từ xe đạp.

Tới khoảng giữa thập niên 30, hãng chế tạo ra những động cơ V-Twin Overhead Valve (van nạp/xả trên đỉnh buồng đốt) đầu tiên của mình và khởi động B-Series, M-Series cùng A-Series lừng danh. Từ thời điểm này cho tới khi hãng hoàn toàn phá sản, BSA đã từng là nhà sản xuất motor lớn nhất thế giới, và thậm chí mảng sản xuất motor chỉ là một phần nhỏ của đế chế tài chính BSA hùng mạnh khi ấy. Thực tế, BSA giữ vững vị trí tập đoàn lớn nhất thế giới nhiều năm với các sản phẩm khác ngoài motor, ô tô và vũ khí như: xe bus, thép, thiết bị công nghiệp cỡ lớn, đạn dược, thiết bị quân sự…

Trong lịch sử tồn tại của mình, BSA đã sản sinh ra những cỗ máy vô cùng ấn tượng, và chúng cũng được xem như những cột mốc đánh dấu những trang sử của tập đoàn một cách sinh động, từ thời kì hoàng kim tới khi nó lụi tàn. Chiếc BSA M24 “Gold Star” được hãng bắt đầu sản xuất từ năm 1938 là khởi điểm cho sự lớn mạnh của tập đoàn. Dựa trên nguyên mẫu M23 Empire Star tiền bối, chiếc xe được duy trì lắp ráp cho tới tận 25 năm sau. “Gold Star” sở hữu động cơ 4 thì chế tạo hoàn toàn bằng tay, với mức dung tích dao động từ 350cc cho tới 500cc. Vào những năm 1950, “Gold Star” trở nên nổi tiếng bởi hiệu năng đỉnh cao, và sở hữu tốc độ nhanh bậc nhất giữa những xe sản xuất hàng loạt. Suốt thập niên này, những chiếc “Sao Vàng” bán chạy như tôm tươi. Chiếc Gold Star thành công tới mức, động cơ cũng như kết cấu khung của nó được tinh chỉnh với nhiều cấu hình khác nhau và thống trị rất nhiều giải đua, từ Isle of Man TT khắc nghiệt, cho tới những cuộc đua Scramble chìm trong bùn đất.


BSA M24 Gold Star.

Bên cạnh “Gold Star”, chiếc A7 495cc ra mắt năm 1946 có động cơ được thiết kể bởi Val Page, người đã từng thiết kế động cơ cho J.A. Prestwich và chiếc Ariel Red Hunter, cũng đáng chú ý. Chiếc A7 được nâng cấp nhẹ vào năm 1950 và kết thúc vòng đời của mình vào đầu thập niên 60. Một thời gian ngắn sau (4 năm) khi chiếc A7 được đưa ra thị trường, một phiên bản hiệu năng cao hơn của nó mang mã hiệu A10 650cc cũng được đón nhận nồng nhiệt. Chiếc A7 và A10 cũng là hai mẫu BSA được yêu mến với sự ổn định và đem lại trải nghiệm lái mượt mà.


BSA A10 Flat Tracker tại triển lãm The Bike Shed London 2015.

Chính tại quãng thời gian này, đế chế BSA đang lớn mạnh hơn bao giờ hết. Nhà công nghiệp gia người Anh Sir Bernard D.F. Docker trở thành chủ tịch của BSA. Ông cũng đồng thời đảm nhiệm vai trò này tại Daimler Motor Company. BSA đã mua được Triumph (Triumph với những chiếc Bonneville, Tiger…) sau một thỏa thuận bí mật với Ariel Motorcycles. Tuy nhiên tới đầu những năm 60, một số nhân tài của tập đoàn lần lượt ra đi. Nhiệm kì của Docker kết thúc năm 1956 và để cựu chủ tịch của Triumph, John Young Sangster nhậm chức, trước khi nghỉ hưu 5 năm sau. Công ty dần dần trở thành một cái bóng đáng thương của chính nó trước đây, những sai lầm trong chính sách kinh doanh cũng như thiết kế và nghiên cứu sản phẩm dần dần xuất hiện, báo hiệu tương lai không mấy sáng sủa.

Khi đã sở hữu thương hiệu Triumph, hãng bán các sản phẩm của mình dưới nhiều cái tên khác nhau. 1959, BSA giới thiệu chiếc Scooter “Sunbeam”, hay còn gọi với cái tên Triumph Tigeress, có động cơ 2 thì 175cc. Tới cuối thập niên 60, có tới 60% doanh số của BSA cũng như Triumph nằm ở thị trường Mỹ và các quốc gia khác, nhưng bình minh của các hãng xe đến từ đất nước mặt trời mọc dần phá tan bóng mây rộng lớn của các nhà sản xuất motor tại Anh và Mỹ.


Chiếc xe làm thay đổi cục diện ngành công nghiệp – Honda CB 750.

Sự trỗi dậy mạnh mẽ và đột ngột này có phần làm ông lớn BSA bất ngờ. Tập toàn liên tục đưa ra một chuỗi những quyết định sai lầm và thiếu kiên nhẫn. 1962, BSA giới thiệu chiếc A50 (500cc) và A65 (650cc) động cơ 2 xi lanh thẳng hàng có kết cấu Unit-Construction (động cơ và hộp số sử dụng chung vỏ như xe hiện đại). Chúng bị chê trách kịch liệt bởi sự xấu xí và gặp vấn đề với lỗi rung lắc chưa từng có trước đây, để rồi bị ngừng sản xuất và đi vào lãng quên cho dù chỉ 1 năm sau, công ty con của tập đoàn, Triumph cũng sử dụng kết cấu này cho chiếc 650 twin của mình và thành công rực rỡ. 1963, BSA giết chết dòng xe bán chạy nhất mà hãng sở hữu, chiếc Gold Star, mà không hề có bất cứ sự thay thế thích hợp nào.


1971 BSA A65 Lighting.

Hoàn cảnh cấp bách liên tục đưa BSA vào con ngõ cụt tối tăm, khi số lượng lớn xe Honda, Kawasaki, Suzuki đang dần giành lại thị phần của hãng ngay trên sân nhà, đặc biệt là tại phân khúc Enduro 2 thì nhỏ gọn. Người khổng lồ vội vã đưa ra chiếc Bantam, một nỗ lực trong vô vọng nhằm cứu vãn thị trường vào năm 1968, với thiết kế cổ lỗ không hề hợp thời.


BSA Bantam.

Họa vô đơn chí, BSA để cho cái tôi vĩ đại của mình dẫn sai đường. 1963, hãng đề đạt một ý tưởng đại tài và vượt thời gian về cỗ máy 750cc 3 xi lanh chưa từng có trước đây. Tới 1965, những nguyên mẫu đầu tiên đã được tiến hành chạy thử trên hệ thống khung của Bonneville. Chiếc xe này sẽ là sự thay thế cho những mẫu Triumph 650 xi lanh đôi đã gần hết vòng đời, như Bonneville và TR6, mang cái tên Trident. Tuy nhiên, dự án đầy hứa hẹn bị đình trệ. 1967, Honda ra mắt chiếc CB 750-Four gây chấn động và thay đổi tất cả. Khi này, BSA mới chợt tỉnh thức và nhận ra họ cần phải nhanh chóng thúc đẩy mẫu xe mới, nhưng đáng tiếc thay, khi này, ban lãnh đạo của hãng đã không còn giữ được đường lối sáng suốt như xưa. Ganh tị với chính sự thành công của đứa con Triumph, BSA quyết định hãng cũng sẽ phải sở hữu mẫu xe độc đáo này, nhưng bắt buộc, không chỉ là một sự “đóng mác”. Một động cơ mới được thiết kế lại, lấy cơ sở từ chiếc Trident, có cấu hình 750cc 3 xi lanh OHV (Over-head Valve), nhưng có buồng đốt và engine head thay vì thẳng đứng, được nghiêng một góc 12 độ, không vì bất kì lý do kĩ thuật gì. Sau đó, họ lại muốn chiếc xe có một hệ thống khung mới, giống với khung truyền thống của BSA hơn. Những sửa đổi này tiêu tốn của BSA quá nhiều thời gian, khiến chiếc BSA Rocket 3/Triumph Trident T150 chỉ xuất hiện sớm hơn chiếc CB 750 hùng mạnh một vài tháng, cho dù dự án khởi động từ 5 năm trước. Tập đoàn cũng thuê một công ty có tên Ogle để thiết kế cho Rocket 3, khiến nó trông chẳng giống ai và làm doanh số xe thấp thậm tệ. Thiết kế của xe ở các phiên bản sau được thay đổi, nhưng tất cả đã quá muộn. Vị trí dẫn đầu về tốc độ cho xe sản xuất hàng loạt của mẫu xe này, có được nhờ khối động cơ 58 mã lực cùng hộp số 4 cấp, cũng nhanh chóng bị soán ngôi bởi chính chiếc CB 750 công nghệ cao. Tại thị trường Mỹ, Rocket 3 ghi dấu những cố gắng nhỏ của công ty, khi chiếc xe được thiết kế lại bởi Craig Vetter, biến nó trở thành chiếc Triumph X75 Hurricane Mỹ Hóa. Rocket 3 ngậm ngùi viết nên những dòng chữ nhạt nhòa cuối cùng trong chương sử cuối cùng của BSA.


1969 BSA Rocket 3. Một động cơ tuyệt vời bị lãng quên bởi sự thất bại về thiết kế cũng như chiến lược kinh doanh.

1973, chính phủ anh vào cuộc và sát nhập tập đoàn BSA-Triumph, sau những khủng hoảng tài chính, cùng Norton-Villiers, tạo ra Norton Villiers Triumph (NVT). Những chiếc xe cuối cùng bước ra khỏi nhà máy của BSA năm 1972 bao gồm các mẫu: B50SS Gold Star, A65F Firebird Scrambler, A70L Lighting, A75R, A75RV Rocket 3 và chiếc B50MX Motocross – sau này được bán tại thị trường Mỹ với cái tên Triumph TR5 MX. Đây cũng là dấu chấm hết cho sự sụp đổ của đế chế đã từng đạt danh hiệu Queen’s Awards for Exports cùng kỉ lục xuất khẩu motor chỉ thua rượu Whiskey tại Anh trong thời kì hoàng kim.


BSA Rocket 3 phiên bản chạy sân. Mặc cho doanh số nghèo nàn, động cơ 3 xi lanh được BSA phát triển chạy đặc biệt nhanh. Chiếc Triumph Trident sau đó đã giành vô số chiến thắng trong các giải đua, song thành công này chưa đủ lớn để thế giới tạm quên đi sự biến mất của thương hiệu motor hàng đầu.

1954 BSA Gold Star Special.

1954 BSA Gold Star Special.


Chiếc Triumph X75 Hurricane là hơi thở cuối cùng của BSA trong thế giới xe cộ, mang động cơ BSA “12 độ”, biểu hiện cho việc BSA đã sẵn sàng để đón nhận những điều mới. Nhưng có lẽ, điều mà hãng cần đón nhận duy nhất chỉ còn lại cái chết của riêng mình. X75 ra đời khi BSA đã ngừng sản xuất, và Triumph tiếp nhận lại mẫu xe này.


T160 Triumph Trident.


1957 BSA Goldstar Scrambler.

 

Tagged under:

bsa 500



Top
×